• Liên hệ Quảng cáo: 0947268688

Những biến chứng nguy hiểm của bệnh sởi ở trẻ bố mẹ cần chú ý

webkhoedep.vn - Sự nguy hiểm của bệnh sởi chính là những biến chứng do bệnh gây ra. Dưới đây là một số biến chứng nguy hiểm mà trẻ có thể gặp phải khi bị bệnh sởi.

Theo thông tin từ Trung tâm Y tế Dự phòng TP. HCM, tính đến thời điểm ngày 28/11/2018, toàn thành phố đã có 521 ca nhập viện do dịch sởi bùng phát mạnh, nhiều trường hợp nhập viện trong tình trạng nguy kịch. Tỷ lệ trẻ nhỏ mắc sởi hiện đang có xu hướng gia tăng. Vậy cha mẹ cần làm gì để phòng ngừa và điều trị bệnh này, giúp con không gặp biến chứng nguy hiểm?

Bệnh sởi là gì?

Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra mà ai cũng có nguy cơ mắc phải, đặc biệt là trẻ em. Triệu chứng đặc trưng của sởi là phát ban và thường khởi phát từ 7 – 14 ngày sau khi nhiễm virus. Bệnh kéo dài từ 4 – 10 ngày. Đây là một trong những bệnh dễ lây lan và gây tử vong cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên, trẻ có thể được phòng ngừa sởi dễ dàng bằng việc tiêm vắc xin định kỳ.

Những biến chứng nguy hiểm của bệnh sởi ở trẻ  bố mẹ cần chú ý-1

Nguyên nhân gây bệnh sởi ở trẻ em

Bệnh sởi do một loại virus thuộc nhóm paramyxo gây ra và rất dễ lây lan. Loại virus sởi này thường tồn tại ở hầu họng và máu của người bệnh từ cuối thời kỳ ủ bệnh đến sau khi phát ban. Khi người bệnh hắt hơi, sổ mũi hoặc ho sẽ khiến virus phát tán nhanh trong không khí. Bạn cũng có khả năng bị nhiễm bệnh nếu tiếp xúc với các đồ vật có chứa virus gây bệnh sởi.

Bệnh sởi lây qua đường nào?

Sởi lây truyền từ người sang người. Khi xâm nhập vào cơ thể, virus sẽ nhanh chóng sinh sôi tại vòm họng, phổi trước khi lan ra toàn bộ cơ thể. Căn bệnh này chủ yếu lây nhiễm qua các con đường sau:

  • Đường hô hấp: Hít phải virus gây bệnh có trong không khí
  •  
  • Tiếp xúc trực tiếp khi nói chuyện với người bệnh: Trong quá trình giao tiếp, bạn dễ dàng hít phải virus có trong dịch tiết nước bọt từ mũi, miệng,… của người bệnh bắn ra khi họ nói hoặc ho, hắt hơi… mà không hề hay biết.
  •  
  • Tiếp xúc với bề mặt có virus gây bệnh: Việc tay bạn tiếp xúc với bề mặt có nguồn virus gây bệnh rồi vô tình đưa tay lên miệng hoặc mũi. Virus sởi có thể tồn tại ở môi trường bình thường trong vòng vài giờ.

Giai đoạn lây nhiễm sởi xảy ra khoảng từ 4 ngày trước cho đến 4 ngày sau khi bệnh nhân phát ban. Virus gây bệnh sởi lây lan mạnh trên diện rộng nên có thể tạo thành đại dịch. Một người mắc sởi có thể lây truyền cho khoảng 20 người khác.

Những biến chứng nguy hiểm của bệnh sởi ở trẻ  bố mẹ cần chú ý-2

Triệu chứng bệnh sởi ở trẻ em

Dấu hiệu bệnh sởi dễ nhận biết nhất là tình trạng phát ban từ đầu lan dần xuống chân

Khi nhiễm virus sởi, ở từng giai đoạn cụ thể, bệnh sẽ có những biểu hiện tương ứng. Cụ thể như sau:

♠ Giai đoạn ủ bệnh: 10 – 12 ngày sau khi nhiễm virus, trẻ thường có biểu hiện hơi mệt mỏi, biếng ăn và biếng chơi.

♠ Giai đoạn khởi phát: Ở giai đoạn này, trẻ thường có hội chứng nhiễm khuẩn, sốt từ 38,5 – 40°C, dễ quấy khóc, hắt hơi, sổ mũi, ho khan, người lả đi… Ngoài ra, trẻ còn có các biểu hiện như:

  • Ăn vào dễ bị nôn, trớ, tiêu chảy
  •  
  • Có hiện tượng xuất tiết niêm mạc
  •  
  • Mắt có hiện tượng đỏ, phù mí, chảy nước mắt và rất sợ ánh sáng
  •  
  • Trên mặt bắt đầu nổi hồng ban li ti, chấm trắng, nhỏ.

♠ Giai đoạn toàn phát: Trẻ sốt cao 39 – 40°C không hạ, kèm theo mê sảng, co giật và phát ban rầm rộ. Tại vị trí các ban lúc này có màu đỏ hoặc đỏ tía, cảm giác rát sần, xuất hiện thành từng mảng hình bầu dục, khi ấn nhẹ các ban có thể chìm đi, sau đó lại nổi lên. Ở giai đoạn này, thứ tự ban mọc như sau:

  • Ngày thứ nhất: Ban xuất hiện ở chân tóc, sau tai, sau gáy, trán, má đầu, mặt, cổ.
  •  
  • Ngày thứ hai: Ban lan xuống ngực lưng và hai tay.
  •  
  • Ngày thứ ba: Ban lan dần xuống bụng và hai chân.

Ban sởi tồn tại 2 – 3 ngày rồi lặn theo trình tự đã mọc, để lại trên da những vết thâm, vằn thô ráp. Khi ban lặn, các dấu hiệu lâm sàng khác cũng giảm dần. Thực tế, bạn không nên chủ quan, khi trẻ mắc sởi cần nhanh chóng đưa tới gặp bác sĩ ngay vì nhiều trường hợp nếu không được chữa trị sớm, bệnh sẽ tiến triển nặng và dễ gặp biến chứng nguy hiểm, thậm chí có thể gây tử vong.

Để biết thêm về dấu hiệu cũng như cách xử lý bệnh sởi, mời bạn tham khảo giải đáp của chuyên gia Nguyễn Hồng Hải.

Bệnh sởi ở trẻ em có nguy hiểm không?

Theo các chuyên gia, sởi là bệnh có tiến triển rất nhanh, nặng và dễ gây biến chứng nguy hiểm, đặc biệt là ở trẻ nhỏ do hệ miễn dịch còn non yếu. Những trẻ có cơ địa suy dinh dưỡng hoặc bị những bệnh nền như bệnh tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính hay những bệnh suy giảm hệ miễn dịch thì việc mắc sởi là điều khó tránh khỏi. Do vậy, câu trả lời cho câu hỏi: “Bệnh sởi có nguy hiểm không?” là CÓ. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong năm 2017, cả thế giới có 110.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong do sởi. Trong đó, 95% trẻ tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và cơ sở hạ tầng y tế yếu kém.

Những biến chứng nguy hiểm mà trẻ bị bệnh sởi dễ gặp phải như:

  • Tiêu chảy hoặc ói mửa: Thông thường, tình trạng tiêu chảy do biến chứng bệnh sởi là nguy hiểm và nghiêm trọng hơn rất nhiều so với tiêu chảy cấp do virus thông thường gây ra.
  •  
  • Viêm phổi: Tỷ lệ trẻ nhiễm sởi gặp phải biến chứng viêm phổi là khoảng 1/20 trẻ mắc bệnh. Khi gặp biến chứng này, trẻ có thể khó thở, sốt rất cao.
  •  
  • Viêm thanh quản: Thường xuất hiện ở giai đoạn khởi phát của bệnh, gây đau họng, khó thở do co thắt thanh quản. Có những trường hợp bội nhiễm do biến chứng của sởi khiến người bệnh sốt cao, khản tiếng, khó thở, tím tái…
  •  
  • Loét giác mạc có thể khiến trẻ nhìn mờ hay mù lòa: Biến chứng này có thể xảy ra ở những trẻ suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A. Đặc biệt, đối với trẻ ở những vùng có đời sống khó khăn, thiếu cơ sở y tế (ở châu Phi, sởi là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa).
  •  
  • Viêm tai giữa: Là biến chứng thường gặp của người bị sởi, tỷ lệ xảy ra là khoảng 1/10 trẻ mắc bệnh sởi.
  •  
  • Viêm não: Tỷ lệ trẻ mắc bệnh sởi bị viêm não chiếm khoảng 1/1.000 trường hợp. Viêm não là một biến chứng rất nguy hiểm và để lại di chứng nặng nề. Trẻ gặp biến chứng này có thể bị hôn mê, co giật… gây tử vong hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến trí não, thể chất với trẻ còn sống sót.
  •  
  • Viêm màng não: Trẻ nhiễm bệnh sởi có thể bị viêm màng não thanh dịch hoặc viêm màng não mủ sau viêm tai do bội nhiễm.

Phòng ngừa và điều trị bệnh sởi ở trẻ em như thế nào?

Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính và hoàn toàn có thể phòng ngừa. Do đó, bạn không nên xem nhẹ bệnh này và hãy chủ động phòng ngừa cho trẻ.

Cách phòng tránh bệnh sởi

  • Phương pháp phòng tránh bệnh sởi đơn giản và hiệu quả nhất là bạn nên cho trẻ tiêm phòng vắc xin đầy đủ và đúng lịch.
  • Khi có dịch, cần cách ly trẻ khỏi nguồn bệnh. Nếu trẻ bị nhiễm bệnh, bạn không nên đưa trẻ tới nơi đông người nhằm hạn chế sự lây lan, khó kiểm soát.
  •  
  • Đối với trẻ bị bệnh, bạn nên giữ gìn vệ sinh thân thể cho trẻ sạch sẽ, tránh gió lùa, ánh sáng mạnh. Phòng ở của trẻ và nhà cửa cần vệ sinh sạch sẽ, thông thoáng.
  •  
  • Trẻ và người chăm sóc cần cắt móng tay để tránh làm các vị trí phát ban bị tổn thương, khiến virus gây bệnh lây lan sang các vùng da lành.
  •  
  • Bạn nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, mát, đầy đủ dưỡng chất. Vì lúc này trẻ mệt và biếng ăn, bạn nên chia nhỏ thành nhiều bữa.
  • Khử khuẩn, vệ sinh đồ chơi… và nên cho trẻ mặc đồ rộng, mềm.

Cách điều trị bệnh sởi ở trẻ em

Hiện nay, chưa có thuốc đặc hiệu chữa bệnh sởi, việc điều trị chủ yếu là nhằm điều trị triệu chứng bệnh. Cần phải đưa trẻ tới gặp bác sĩ để có phác đồ chữa trị cho phù hợp. Việc điều trị bệnh này ở trẻ chủ yếu là:

  • Hạ sốt: Có thể áp dụng các phương pháp hạ sốt vật lý như lau mát hoặc sử dụng thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol
  • Thuốc ho, long đờm
  •  
  • Cho trẻ dùng thuốc kháng histamine như loratadin, diphenhydramin…
  •  
  • Kem bôi ngoài da trị sởi
  •  
  • Sát trùng mũi họng: Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn…
  •  
  • Kháng sinh hoặc corticoid chỉ dùng khi có bội nhiễm và trường hợp biến chứng nặng như viêm thanh quản, viêm não, sởi ác tính… và phải tuân thủ theo liều lượng mà bác sĩ chỉ định.
  •  
  • Các biện pháp hồi sức tùy theo triệu chứng của bệnh nhân: Hồi sức hô hấp khi có suy hô hấp (thở oxy, hô hấp hỗ trợ…), hồi sức tim mạch…
Theo Hello bác sĩ
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết
    Coronavirus (2019-nCoV)